Số Phận Nghiệt Ngã

SỐ PHẬN NGHIỆT NGÃ

Tác Giả: Bùi Quang Kim Định K1A

1-
Hắn xuất thân từ một vùng mà có biển bao quanh nhưng bên này phá nhìn sang bên bờ kia có một ngọn núi ẩn hiện trong sương mù tạo nên một phong cảnh thật hữu tình như một bức tranh thủy mặc. Từ cảng cá Tư Hiền nhìn lên, Túy Vân Sơn có dáng dấp tựa như một con chim phụng đang vỗ cánh.  Theo các vị cao tăng trong chùa, núi Túy Vân ngày xưa có tên là Mỹ Am Sơn, năm đó chúa Nguyễn Phúc Tần trong một lần đi qua Tư Hiền, thấy cảnh nơi đây quá hữu tình nên đã chọn đỉnh núi Mỹ Am Sơn để lập một ngôi chùa nhỏ cầu phúc an dân.  Năm Minh Mạng thứ 6 (2826), nhân dịp đến cửa Tư Hiền, vua ghé thăm Mỹ Am Sơn thấy chùa cổ điêu tàn, hoang vu, mới cho xây dựng lại và đổi tên là chùa Túy Ba. Năm Minh Mạng thứ 17 (1837), chùa được trùng tu và dựng thêm lầu. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) được tiếp tục trùng tu và đổi tên chùa là Túy Vân.

Hắn mô tả cái làng mà hắn sinh ra và lớn lên hầu như cả làng ai cũng nghèo giống nhau, nghèo , rất nghèo, “nghèo rớt mồng tơi” với những đụn các trải dài bao la, quanh năm chỉ trồng được rau màu và những cây ngắn ngày, còn đa số là ngư dân ra khơi bám biền. Hắn nói cha mẹ nó nói đời cha mẹ đã nghèo khó, chỉ biết vô độn chặt cây, mót củi lên Dinh (lên Huế) bán lấy tiền cho gia đình sinh sống và nuôi nó ăn học nên người, cho nên mong muốn duy nhất của ba mạ hắn là phải kiếm cái chữ để đổi đời và cũng chỉ có cái bằng mới được tiến cữ ra làm công chức hy vọng khỏi phải đi lính bỏ xác ngoài chiến trường.

Với bao nỗ lực và quyết tâm dùi mài kinh sử từ một trường Trung học Đệ nhị cấp ở Quận Vinh Lộc nó cũng đạt được tâm nguyện của cha mẹ: Đậu Tú tài toàn phần năm 1970. Ngày báo tin đậu Tú tài cha nó đi khoe khắp xóm mừng rỡ hoan hỉ ra mặt với bao viễn cảnh từ nay đứa con trai mà mình thương quý đã trở thành ông Tú và cũng để làm gương cho đứa em kế nó, nên nhớ cả làng xã nó không có ai học hết Tiểu học chớ đừng nói tới Tú tài ! Để chúc mừng thằng con được ghi tên trên bảng vàng ông đã bắt con heo mọi làm thịt trước cúng tạ lễ  ông bà tổ tiên đã phù hộ cho thằng con nay đã trở thành ông Tú đầu tiên trong cái làng biển nghèo khó này, sau mời bà con giòng họ cùng chung vui, tin vui khắp làng đều biết, ông Thôn trưởng cũng đã mang cau trầu rượu đến chúc mừng gia đình có người đỗ đạt làm vinh hiển cho làng xóm… Với những ly riệu đế chúc tụng của bà con bạn bè trong ngày Đại đăng khoa, với những tình nghĩa, với tâm trạng hân hoan tột đỉnh nó đã nốc cạn đến ly cuối cùng…. Tiệc vui nào cũng phải đến lúc tàn cuộc và nó cũng đã nốc thôn nốc tháo ói đến tận mật xanh mật vàng nhừ tử thể xác nằm liệt giường ba ngày mới trồi dậy, đầu óc quay cuồng dật dờ đờ đẩng, cái nhục thể của hắn chừ như cái xác vô hồn… ., nó không nhớ đã uống bao nhiêu lít nước để dịu cơn khát đắng họng khô khốc trong miệng.

Rồi một tháng cũng qua nhanh. Sau những đêm thao thức toan tính cân nhắc kèm theo những mơ mộng ước vọng của đứa con trai mới trưởng thành, đầu óc nhỏ bé của nó rối tung lên như đứng giữa ngã ba đường- Thi vô trường Võ Bị QGĐL? với khả năng Toán Lý Hóa thì nó dư sức nhưng là nỗi khổ đau của cha mẹ hắn vì giữa làn tên mũi đạn làm răng mà tránh được. Với những suy tưởng mông lung trong đầu óc như lời cha nó văng vẳng bên tai, thôi đành gạt bỏ ước mơ làm người hùng thời đại. Sau nhiều đêm suy nghĩ nó quyết định lên phố (Huế) xin dạy kèm và để tìm kiếm những thông tin các trường Đại Học: -Sư Phạm -Y Khoa – Học viện Quốc gia Hành chánh?…. chưa nói đến sinh ngữ là cái tử huyệt khi nó đụng vô khóa thi nào có dính dấp tới sinh ngữ Pháp. Lựa chọn cuối cùng là vô Đại Học Luật Khoa Huế với bao nhiêu mộng tưởng khi cầm tấm bằng Cử nhân Luật thì giá nào cũng vô Sài Gòn thi vô Đốc sự Quốc gia Hành chánh ra trường không được Phó Quận thì cũng được Trưởng Ty ở một tỉnh lẻ cũng được nhằm thỏa mãn ý nguyện của cha mẹ bao nhiêu năm ấp ủ cũng như ước mơ của hắn sẽ là một công chức trong chính quyền.….

2-
 Không biết có tự bao giờ đến khi tôi lớn lên khoảng 5-6 tuổi thì tôi và gia đình sống chung  tại hiệu buôn tên là K.T tọa lạc tại số 9 đường Trần Hưng Đạo thành phố Huế, chuyên bán buôn những mặt hàng tạp hóa được nhập cảng từ Pháp và cung cấp lại cho các hiệu buôn ở Sài Gòn, Tourane (Đà Nẳng) và Hà Nội trước ngày chia đôi đôi đất nước. Ba Mạ tui vì lo mãi mê buôn bán kinh doanh mà không thể kềm cặp hay dạy vẻ chăm sóc việc học hành của các anh chị em tôi, nên từ tiểu học tôi đã được ông già tống vô nội trú trường Thiên Hựu (Providence). Hồi đó con cái mà giao cho mấy Cha Cố mấy Ma Soeur là hoàn toàn tin tưởng và yên tâm về vần đề giáo dục cũng như hạnh kiểm, cứ chiều Thứ bảy là ông lái chiếc xe đen thùi lùi ( Xe Traction hiệu Citroen của Pháp) đến rước tôi và các em gái tôi ở trường Jeane D’arc về gia đình vui chơi ăn uống cùng các anh chị em và chiều Chủ nhật lại đưa chúng tôi vô trại tập trung. Nhưng tôi lại khoái vô trường hơn vì thích đàn đúm vì thích giao du những thằng bạn Tây lai mũi lõ như thằng Maurice da đen con lão chủ plantation café ở ngoài Khe Sanh, thằng Jean con lão chủ chuyên khai thác gỗ và cao su ở tận bên Lào, thằng Emmanuel con ông chủ nhà đèn gần cầu Kho rèn, thằng Jarc, thằng Michel…v.v.v Tụi nó học cũng khá nhưng hoang đàng chi địa thì không ai bằng. Tôi nhớ như in đến tận bây giờ năm đó (1962) chúng tôi vừa lên lớp bảy (Septième). Ở trong lớp thường thì những đứa học hành nhàn nhàn và hoang đàng phá phách nghịch ngợm thì ưa ngồi dãy ghế sau cùng trong đó có thằng Maurice và tôi, phía trước là hai thằng Emmanuel và Jarc đều là da trắng tóc hoe to con mũm mĩm giống nhau, hai đứa cá độ với nhau mà chúng tôi làm trọng tài người thua sẽ bao một chầu gồm bốn đứa đi bơi ở piscine Cercle Sportif (Xẹc) và ăn kem ở Bạch Đằng, việc thách đấu là cái pénis (con cu) đứa nào khi gonfler lên dài và đẹp thì đứa đó thắng, có lẻ vì giờ étude chỉ ôn bài nên ai cũng tà tà và cũng vì quá căng thẳng  thao tác cho việc hơn thua nên đã quên hết mọi sự xung quanh. Thật bất ngờ (e cha đã nhìn qua cửa sổ) cha Petit Jean lướt nhẹ đến hai con gà đang mãi miết so cựa xách tai hai đứa lên cái bục gỗ dưới cái bảng cha quất hai đứa mỗi đứa mười roi phải bị cấm túc (consigne) ngày Chủ nhật tới, một cuộc cá độ bất thành mà còn bị đòn roi thiệt tội nghiệp cho hai thằng bạn tây lai của tôi, roi mây mà quất như rứa chắc đau khủng khiếp lắm. Sau trận đòn đó hai đứa bị chuyển qua lớp khác và bắt buộc ngồi đầu bàn . Một hình ảnh từ thời còn trai trẻ mài đủng quần dưới ngôi trường biết bao kỷ niệm mà không thể nào quên.
Bắt đầu năm1962 trở đi tình hình chính trị trong nước càng ngày càng biến động, nhiều đảng phái tranh giành quyền lực kết hợp Phật giáo xuống đường làm tình hình đất nước trở nên rối ren phức tạp và đỉnh điểm là cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 lật đổ nền đệ nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tiếp theo sau cách mạng đã khai sinh một nền cộng hòa mới: Đệ nhị Cộng Hòa được điều hành bởi Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch. Bất ổn về chính trị, khó khăn về  tài chánh, kinh doanh buôn bán càng ngày càng sa sút cùng nợ nầng chồng chất và khó đòi, ba tôi đã quyết định bán căn phố 9 THĐ mà lòng tiếc nuối vô bờ để về tìm vui điền viên với cây cảnh hoa lá chim muông trong vườn rộng cả mẫu tây tại  làng Vạn Xuân thành phố Huế.


Khoảng thời gian đó tuy tôi còn nhỏ nhưng đã có những suy nghĩ và nhìn thấy được khi thấy Ba tôi làm ăn càng ngày càng xuống dốc thê thảm, những bữa cơm gia đình lại thiếu vắng bóng dáng của Ba tôi, những khó khăn của gia đình phải đối mặt và năm đó anh em chúng tôi không còn học nội trú nửa mà chuyển qua học ngoại trú (externe).

Sáu năm trau dồi kinh sử cuối cùng tôi tôi cũng tôi cũng lấy được mảnh bằng Tú tài II. Việc đầu tiên là bay vô Sài Gòn để nộp đơn xin du học Thụy Sĩ đồng thời thi vô trường Bách khoa Phú thọ. Sau gần ba tháng ăn chơi nhảy nhót chờ đợi kết quả thì tất cả đều đậu phải cành mềm lộn cổ về quê. Quá buồn chán tôi đành phải ghi danh vô học trường Luật ở Huế, một ngôi trường đã được xây dựng từ năm 1957, không to lớn đồ sộ như những trường đại học ở Sài Gòn mà tôi từng biết. Những ngày đầu nhập học tôi cũng phải làm thẻ sinh viên ở Viện Đại Học và tôi còn nhớ trên thẻ còn có một đường chéo màu đỏ kéo từ góc trên trái qua góc dưới phải để phân biệt thẻ sinh viên các khoa khác, phía dưới hình thẻ còn có một dãy số mà tôi nhớ man mán 70/xxxx,.do Viện trưởng Lê Thanh Minh Châu ký.
Ngày đầu tiên vô trường, đập vô mắt là cây đa cao và rậm rịt không biết được trồng tự bao giờ mà cái gốc to lớn với những chùm rễ dài ngoằn sần sùi thật ấn tượng, bệ đá bao bọc xung quanh và bóng mát đã làm chỗ nghỉ chân cho từng nhóm bạn nam và nữ…  Tâm trạng với bao lo lắng nôn nao của một thằng sinh viên mới toanh vào một ngôi trường chưa quen và bạn học còn xa lạ. Vô kiếm chỗ ở Giảng đường Phan Văn Thiết để nghe thầy giảng bài cho rõ thì hởi ơi người đông hơn rạp hát không còn một chỗ chen chân thấy ai nấy đều cặm cụi ghi ghi chép chép rất chăm chỉ làm mình cũng lo lo, thôi đành qua Giảng đường B vậy. Ơn giời! còn lác đác vài cái ghế ở dãy sau cùng thôi đành ngồi lắng nghe tiếng được tiếng mất lời giảng của thầy qua màn hình TV đen trắng mà âm thanh rè đục khó nghe. Sau này có kinh nghiệm tôi đã đọc và học trước những cours đã có cơ may mới hiểu được bài cũng như những thuật ngữ nghe rất mới mẽ và xa lạ như: Quá thất (faute), Thủ đắc (acquis), Chế tài (sanction) và rất nhiều cổ ngữ chuyên môn về pháp luật nữa.v.v.v. tôi nghĩ nếu không đọc trước ở nhà  là không cách chi hiểu được những từ ngữ liên quan dến nội dung của bài để hiểu và nhớ. Hình như cuộc đời đi học của tôi thường là bị ngồi ở dãy sau cùng từ trung học cũng như lên đại học cũng vì ngồi ở chỗ tận cùng của lớp và như thế mà tôi đã gặp hắn….
3-

Hắn rất lanh lẹ và tháo vát, luôn đến trước và dành cho tôi một chỗ gần cạnh hắn, hắn còn biết trong mười mấy môn học của năm thứ Nhất thì môn Dân luật của thầy Nguyễn Toại là khó nhất nếu qua được cửa ải này thì mấy môn kia dư sức qua cầu , do đó hắn rất chăm chỉ gạo bài….Ngày thi khóa I của năm thứ Nhất cũng đã đến, hắn rất tự tin hoàn thành tất cả những bài thi viết, duy chỉ có môn sinh ngữ Pháp (những danh từ chuyên môn về luật  Pháp-Việt) nó nói e không như mong muốn và đúng như nó nói, đã rớt môn Sinh ngữ và phải thi lại kỳ II. Còn tôi thì bài vở cũng tàm tạm và đã đủ điểm với những con số vừa sát nút để lên lớp Cử nhân năm thứ Hai. Còn nó thì thiểu nảo chờ đợi thi kỳ II môn sinh ngữ Pháp, để chắc ăn nó cầu cứu tôi thì giùm môn Pháp văn còn tôi thì khi đó thiệt vô tư và rất tự tin chưa bao giờ nghĩ đến hậu quả về sau; cũng không nở từ chối với bạn nên ừ đại cho nó yên lòng tôi đã hứa, ngày thi môn Pháp văn cũng đã đến tôi và nó chở nhau tới Giảng đường Karate, tôi vô chuẩn bị làm bài còn nó đứng đợi ngoài đường…

Một tiếng đồng hồ sau cũng vừa lúc tôi chuẩn bị nộp bài thí với lòng mừng thầm cho bạn chuyến này vượt qua suôn sẻ. Nhưng than ôi!  “Niềm vui ngắn chẳng tày gang”, một vị giám thị hành lang quen thuộc đàn anh  là Trần Văn Dũng đến coi Phiếu báo danh và Thẻ căn cước đã hỏi: ” Anh tên Nguyễn Hữu Hồng à?”  tôi liền trả lời dạ đúng…sau đó đàn anh khẳng định: “ Tui biết rõ anh là Đoàn Quốc Đức mà…” rứa là hết đường chối cải, đàn anh còn bồi thêm ” Tui biết anh hay uống cafe Bưu điện và thỉnh thoảng ngồi cafe cờ tướng ở quán chị Lợi..” Thôi rồi còn chi mà chối cải và năn nỉ nửa đây, đành mặc cho số phận đưa đẩy và phải ký vô biên bản phạm quy, đàn anh còn thòng thêm một câu: “Tui chỉ lập biên bản còn chuyện giải quyết đuổi học hay tha là do thầy Khoa trưởng quyết định”.

Nó thấy tôi thất thểu đi ra miệng méo xẹo là biết có chuyện rồi. Tôi kể cho nó nghe những chuyện xảy ra và kết luận rằng…Nếu mình không cà phê cà pháo Bưu điện, không la cà quán chị Lợi thì đàn anh mô có biết mình là ai thì hôm nay thoát khỏe rồi! tự dằn vặt trách móc bản thân thì cũng không thay đổi được chi. Âu đây cũng là cái số vậy và ngã rẽ cũng bắt đầu từ đây. Nó rất tâm lý và tình cảm nó an ủi và động viên tôi rất nhiều vì nguyên do cũng vì nó mà tôi bị vạ lây, nó khuyên tôi hảy bình tỉnh và sáng suốt để lên gặp thầy Khoa trưởng năn nỉ một lần coi sao. Nó nói tau bỏ học đã đành nhưng mi thì không được, còn Ba Mạ mi nửa mi trả lời răng? nên mi phải cố xin và năn nỉ để thầy đừng đuổi học…Còn nước còn tác, đã đường cùng nên cũng liều một phen với tâm trạng bồn chồn lo lắng và không mấy hy vọng.

Đúng sáu giờ tối hắn chở tôi đến Cư xá của Giáo sư Đại học số 2 Lê Lợi hắn đứng đợi dưới còn tôi lên lầu tìm Appt của thầy Khoa trưởng, sau khi gõ cửa nghe tiếng thầy nói ai đó vô đi, khi được ngồi đối diện với thầy, thầy hỏi cậu là ai tôi trả lời dạ thưa thầy con là Đoàn Quốc Đức hồi sáng bị lập biên bản vì thi thế cho người bạn,  thầy kêu lên à thầy đã biết và bắt tôi tường trình sự vụ:  tôi liền kể một mạch ” Dạ thưa thầy người bạn con sáng nay bỗng dưng bị đau nặng nằm ở nhà không thể đi thi  môn này được nên nhờ con thi thế, con chỉ giúp bạn con thi môn sinh ngữ chứ không có lấy tiền bạc chi hết, chỉ tình bạn con đã vô tư mà giúp thôi, kính thầy tha cho con một lần….“. Thầy bèn nói răng con dại dữ rứa? con biết  học Luật mà phạm luật (phạm trường quy) là tội nặng lắm không? con vì tình bạn mà không nghĩ đến hậu quả con sẽ bị đuổi học rồi phải đi Thủ Đức thì sẽ ra răng? ( Trời ơi nghe đến đây là tôi đoán chắc thầy sẽ tha). Câu sau cùng là lần này thầy tha cho con không được tái phạm và về học hành cho tử tế… Sau khi nghe những lời khuyên bảo và những lời giáo huấn của thầy. Ra về với tấm lòng tôn kính khôn tả với những lời khuyên bảo nhân từ trìu mến như một người cha . Thầy Nguyễn Sĩ Hải ơi! viết đến đây con xin kính dâng thầy một nén hương lòng để tưởng nhớ đến người thầy vô vàn kính yêu và nhân hậu và con xin cầu nguyện Hương linh thầy mãi mãi thanh thản ở cõi Vĩnh Hằng.

…Sau chín tháng ở quân trường Thủ Đức, hắn mặc bộ đồ rằn ri Biệt Động Quân đầu đội mũ nâu cầu vai mang cấp bậc Chuẩn úy trông thật oai phong; Tiểu đoàn 39 BĐQ của hắn được về nghỉ dưỡng quân ở Hoà Khánh Đà Nẳng. Trong mươi ngày đó cứ sáng Thứ bảy tôi mò vô Đà Nẳng gặp hắn ăn chơi nhảy nhót đến sáng Thứ hai lại cùng con ngựa sắt đi về Huế một mình.

Lần cuối cùng gặp nhau hắn nói trong vài ngày tới tụi tao sẽ đi hành quân ở biên giới Việt-Lào chuyến hành quân này có thể là hơi lâu để mi tau gặp nhau, chia tay hắn tôi nhớ rất  rõ ngày đó là  ngày 3/2/1971; đúng ngày sinh nhật của tôi, không bánh trái không rựơu bia không đèn cầy…Chiều đó trứơc khi trở về Huế vài câu từ biệt hắn xiết tay tôi với đôi mắt buồn diệu vợi hình như ươn ứơc ở khóe mi, tôi không dám nhìn vào mắt nó mà chỉ xiết chặt tay hắn thật lâu với những lời chúc vô nghĩa…

Chia tay bạn không ở nơi sông 
Nhưng sao nghe tiếng sóng vỗ trong lòng

Nỗi buồn ở … hai chiến tuyến : Không có người chiến thắng chỉ có người Việt thua ? (*)

( source : internet )

Tin các nhật báo đua nhau đưa tin cho biết tình hình chiến sự tại đường số 9 Nam Lào trong đó Tiểu đoàn 39 BĐQ đang trấn đóng mặt trận phía Bắc của ngọn đồi (Ranger North Hill), phân tích, mỗ xẻ các sai lầm về chiến lược nên đã đưa đến những thiệt hại nặng nề cho QLVNCH trong đó có Tiểu đòan 39/BĐQ.

Tháng 3/1971 tình hình chiến sự càng ngày càng khốc liệt cả ngọn đồi đều bị bốc lửa vì hỏa lực bom đạn của hai bên… Căn cứ BĐQ Bắc đã thất thủ… (**) 

“…Tin tìểu đoàn 39/BĐQ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi phân tán mỏng chứ không đầu hàng lan truyền đi khắp nơi. Trung tá Molinelli thuộc lữ đoàn 17 Kỵ binh không vận Hoa Kỳ đã viết “Đã ba ngày qua chúng tôi không tiếp tế được cho họ (TĐ/39/BĐQ). Khi gần hết đạn họ tấn công ra ngoài để lấy súng đạn của địch tiếp tục chiến đấu” (Hạ Lào Lam sơn 719). (***)

Những ngày cuối tháng 3/1971 trong lòng tôi nghe như lửa đốt nôn nao và hồi hộp hình như có chuyện chẳng lành xảy ra, quả đúng như linh tính mách bảo, nhận được tin nó đã hy sinh anh dũng qua một người bạn sống sót trở về.

Vậy là tôi nhận được tin nó tử trận trên Ranger North Hill trên đường số 9 Nam Lào trước khi gia đình nó nhận Giấy báo tử… Thôi Hồng ơi! âu đó cũng là số phận của chúng ta thật nghiệt ngã sinh ra trong thời chiến đành phải chấp nhận và đón lấy mà không thể chọn lựa và cưỡng lại.

Viết đến đây xin gởi đến Hồng người bạn thân thiết năm xưa một nén hương lòng đã anh dũng đền xong nợ nước.

Tất cả đã chìm vào đáy dĩ vãng rong rêu, mỗi lần hồi tưởng lòng tôi lại dâng trào bao ký ức xôn xao trở về, chiến tranh và nổi buồn chiến tranh đã có những người ra đi không bao giờ trở lại…

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
 Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?”

(Lương Châu từ)

Bùi Quang Kim Định
Viết xong tháng 5/2017

* Buồn Vui Đời Lính
** Lam sơn 719-BĐQ
*** Hạ Lào Lam sơn 719

 

BLL/CHS/KMH/Đà Nẵng gặp mặt Tất Niên 3-2-2018

Kính Quý Thầy Cô,
Và Quý ACE/CHS/KMH

Hằng năm tập thể CHS/KMH/ Đà Nẵng chúng tôi đều tổ chức gặp mặt tất niên để Thầy và Trò cùng nhau hội ngộ vui xuân, và cũng để ôn lại kỷ niệm của một thời Kiểu Mẫu Huế!
Và đặc biệt năm nay BLLĐN sẽ tổ chức mừng KMH/ĐN tròn 12 năm!
Đó là một dấu ấn mà tập thể chúng tôi không bao giờ quên!
Dẫu xa Huế…xa trường xưa…xa Thầy Cô và bạn bè,nhưng chúng tôi cũng tìm lại một chút dư hương của mái trường Kiểu Mấu Huế tại xứ Quãng này!

Thầy Cô và anh chị em quý mến!
Mỗi mùa xuân sang chúng ta lại già thêm một tuổi!
Tóc Thầy đã trắng phau và tóc Trò cũng đã bạc màu!
Linh hồn ngôi trường cũ mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế luôn sống mãi trong lòng Quý Thầy Cô và các ACE!

CHS/KMH/ĐÀ NẴNG xin mạn phép qua Forum của trường, và qua FaceBook:
Kính trân trọng mời:
Quý Thầy Cô và Quý nhân viên của trường!
BLL/KMH/HN
BLL/KMH/ Huế
BLL/KMH/ SAIGON
BLL/KMH/ DAKLAK

Vui lòng đến dự buổi liên hoan tất niên và mừng KMH/ĐN tròn 12 năm!
Vinh dự và hạnh phúc biết bao khi cả trường luôn hướng về chúng tôi!
Đó cũng là niềm khích lệ cho KMH/ĐN luôn đồng hành và đoàn kết bên nhau!

Trước thềm năm mới kính chúc Quý Thầy Cô, các BLL và toàn thể ACE/CHS/KMH một năm mới:
SỨC KHỎE-AN KHANG- THỊNH VƯỢNG

Địa điểm tổ chức:
Nhà hàng CỘI NGUỒN lô01 A43 khu biệt thự Đảo Xanh, Quận Hải Châu,Tp. Đà Nẵng
Thời gian tổ chức: 16g ngày 03/02/2018 nhằm ngày 18/12 âm lịch đến 20g cùng ngày!

Kính mong quý BLL thông báo rộng rãi cho quý Thầy Cô và các cựu nhân viên cùng các ACE các khóa về chung vui cùng KMH/ĐN!
Rất mong quý BLL hồi đáp số thành viên về tham dự để BLL chúng tôi tiện việc sắp xếp!
Rất cảm ơn các BLL!
Và mùa xuân sẽ đến
Ước mong mọi điều Bình An!

TM.BLL.CHS.KMH.ĐN

Lê Huệ  K4

Người Lính Già nơi Xứ Người

NGƯỜI LÍNH GIÀ NƠI XỨ NGƯỜI

                                                           Nguyễn Trà K1A

Giới thiệu người viết: NguyễnTrà sinh quán Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị, vào học ở Huế, gia nhập quân đội VNCH năm 1968, Thủ Đức khóa 9/68. Thặng dư sau vào khóa 3/69, chuyển về Không Quân, tốt nghiệp hoa tiêu trực thăng ở Hoa Kỳ đầu năm 1971 về phi đoàn Hoàng Ưng 239 (Skyhawk) /SĐIKQ Đà Nẵng. Cuối năm 1972 lên Trung Úy giữ chức phi đội phó phi đội Gunship. Đầu năm 1975 đặc cách lên Đại Úy nhiệm chức lúc 30 tuổi. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975, vợ và 3 con đang hưu trí tại Nam Florida, USA.

***

Mùa thu được áp dụng cho cuộc đời của con người không chỉ là một mùa lá vàng mùa lá rụng tàn úa, mùa thu của những người lính già nơi viễn xứ sữa soạn và sẵn sàng cho tinh thần, những chuyến du lịch thông thả để tận hưởng sự thanh nhàn khi đời sống không còn vướng bận với miếng cơm manh áo nhọc nhằn, nhẹ bớt bổn phận trách nhiệm dưỡng dục dạy bảo con cái.

Cuộc đời rất ngắn ngủi, đến nỗi chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp đẽ tuyệt vời thì người lại già nua yếu ớt thời gian đến qúa nhanh khi nhận ra thì lại qúa muộn màng, cuộc đời dính liền nhiều sầu bi khổ lụy hơn là thảnh thơi an nhàn. Hạnh phúc đôi khi tưởng như xa vời, nhưng thật ra nó ở bên cạnh chúng ta, đừng mãi mê theo đuổi những thứ xa hoa phù phiếm,  với bước chậm trong ánh nắng chiều vàng nhạt với sự im lặng và tĩnh mịch của buổi hoàng hôn, hưởng thụ như từng phút dây qua cuộc sống, thấy hạnh phúc từ từ hiện ra đến với ta. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc, hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời biết tận hưởng cuộc sống. Hạnh phúc và vui vẻ của mình không phải ở trong con mắt của người khác mà lại ở chính trong tâm mình.

Vận nước điêu linh, tôi không giận hờn cũng chẳng oán trách, thế hệ chúng ta chẳng may phải hứng chịu đã lưu lạc khắp bốn phương trời, tuổi đời chồng chất hình hài cũng quăn queo gầy guộc trông cằn cỗi đã qua cái thời thơ mộng, bay nhảy, bao biến đổi của cuộc đời, đã từng lướt qua với nét lãng mạn, đa tình và thánh thiện của một chàng trai trên hai mươi, cuộc sống tấp nập và hối hả đi qua thật nhanh, mới ngày nào còn lang thang đây đó trên quê hương, nay ngoảnh đầu nhìn lại thấy mình đã già nua, cuộc đời ngắn ngủi thời gian không đợi ai nhưng đôi khi ta mải miết tìm kiếm quên đi hưởng thụ cuộc sống niềm vui và hạnh phúc, rất là đơn giản chỉ là ta đã lãng quên mà thôi, vận nước nỗi trôi, số mệnh con người rủi ro tình cờ bắt gặp đâu đó phảng phất một bóng hình, một giấu vết năm xưa là bao kỷ niệm tràn về, nước mắt tuôn trào, không tô điểm thêm sắc thêm son cho cái tuổi đã ngã về chiều tuổi bảy mươi tám mươi là chuẩn bị hành trang đi cùng cho đến hết đoạn đường phù sinh.

Nước Việt Nam, quê hương ta có núi rừng bao la cao ngão nghệ, có sông dài thăm thẳm uốn khúc chảy qua thôn xóm, có biển rộng trời cao, nằm bên bờ Thái Bình Dương, trải qua hàng ngàn năm do thiên nhiên tạo nên, qua nhiều thế kỷ con người tô son phết phấn vun xới càng ngày càng thêm đậm nét, qua thắng cảnh tuyệt vời khắc sâu vào tâm trí, dù có xa cách hàng vạn dặm người con của nước Việt vẫn mơ tưởng về đất mẹ, về thắng cảnh của quê hương, qua nhiều chế độ và xã hội gắn liền với thời gian và lịch sử nâng cao bảo tồn và phát triển đôi khi bị tàn phá và huỹ hoại. Ở xứ người cũng có cánh đồng “cò bay thẳng cánh”, cánh đồng trồng bắp  (ngô) khi mùa bắp đơm hoa nỡ trái, toả mùi thơm ngào ngạt những bông bắp lượn theo chiều gió uốn mình uyển chuyển đều đặn nhịp nhàng, tạo ra dáng điệu gây cảm giác dịu dàng, cũng có cánh đồng trồng mía xanh biếc ánh nắng mùa xuân lấp lánh dịu hiền phủ trùm lên cả cánh đồng, đến mùa thì mía được đốt cháy ngay giữa cánh đồng, làn khói xây thành những đám mây lơ lững chằng chịch từng tầng suốt ngày đêm, khi đang ở giữa không gian tỏa muì thơm trộn lẫn với mùi tro tàn của mía, ngào ngạt giữa khung trời bao la bát ngát, những đàn chim én bay lượn lơ lững trên không trung, tạo thành những bức tranh tuyệt diệu, cảnh đẹp thiên nhiên nơi xứ người tuy khác với mùi thơm mùa lúa chín nơi quê nhà hay thiếu luỹ tre xanh nhưng lại có bãi cát vàng thiếu bóng ngư phủ ngày đêm dầm mưa dãi nắng mò tôm bắt cá nơi dòng sông bến nước, ở đây không giống quê hương ta, nhưng cũng có cảnh đẹp và lãng mạn an ủi cho tuổi già đang sống nơi viễn xứ.

CanhDongBapCanhDongMia

Cánh đồng trồng bắp – Source:Internet         Cánh đồng trồng mía – Source:Internet 

Từ những người trí thức và những người giàu có sống nơi đô thị tráng lệ sầm uất đến các nông dân nghèo xơ xác sống nơi thôn quê hẻo lánh gần một trăm triệu dân Việt bất cứ ai cũng mong ước hoà bình, đất nước thanh bình dân giàu nước mạnh là sự mơ ước của người dân sau bao nhiêu năm chinh chiến đất mẹ điêu tàn, dân chúng chết chóc sự ước mơ đã thành tựu. Từ năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm nhà nước rêu rao hòa bình từ Nam ra Bắc, do đảng cộng sản chiến thắng, ban đầu nghe xuôi tai khoái chí, dần dần thấy ớn lạnh xương sống, qua sự cai trị và lãnh đạo của đảng cộng sản, hòa bình không chỉ là với cuộc sống chung im tiếng súng. Vì trong sự giao tiếp giữa người với người đôi khi con người giết hại lẫn nhau mà không cần dùng đến súng đạn, cũng có khi con người làm đau khổ nhau áp bức bóc lột và mâu thuẫn lẫn nhau mà không cần chiến tranh, cách tốt nhất để xây dựng hòa bình là tăng thêm những hành động yêu thương và bác ái với đồng loại. Nhìn lại lịch sử cận đại của nước Việt Nam bị đô hộ Pháp, bị “Mỹ ngụy” đổ quân vào miền Nam, bị Nga Tàu mang súng đạn xuống miền Bắc. Ngày nay đất nước chúng ta đang lâm nguy như vấn đề Biển Đông, Đồng Tâm, Formosa và gần đây vụ tiếng Việt mới…Không sớm thì muộn Việt Nam sẽ rơi vào tay ngoại bang, hay nói rõ hơn là bị Trung Quốc cai trị, nước Việt Nam của chúng ta đã trải qua hơn bốn ngàn năm Văn Hiến chưa bao giờ khuất phục và lòn cúi ngoại xâm, lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua bao nhiêu thời đại từ nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần và nhà Lê… luôn luôn cương quyết đứng lên bảo vệ lãnh thổ vẹn toàn, trong giai đọan hiện nay, hơn bao giờ hết người Việt chúng ta ở khắp nơi trên thế giới, cần phải nắm tay nhau đoàn kết cùng noi gương tiền nhân để giữ gìn bờ cõi với hồn thiêng sông núi, với chí quật cường hào khí của người Việt Nam. Sau ngày ba mươi tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm chúng ta thua trận nhưng chưa bao giờ giải ngũ cho nên vẫn còn trách nhiệm đối với quê hương và dân tộc, trước sự tồn vong của đất nước và hiểm hoạ nô lệ phương bắc, người cựu quân nhân VNCH vẫn khắc sâu trong tâm -Danh Dự -Tổ Quốc -Trách Nhiệm .

Trong đời sống ở thế gian xảy ra tùy vào yếu tố nhân duyên kết thành theo một chuổi trùng trùng duyên khởi rồi hội tụ dẫn đến kết qủa. Chúng ta đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối, nhưng không bao giờ quên chúng ta là dòng máu Việt, hãnh diện và tự hào là ngươì Việt Nam, tôi không ngồi nhìn quê hương và dân tộc với ánh mắt hờ hững dửng dưng với nỗi đau ngút ngàn đã phải trải qua, không ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai, với số tuổi già nua hàng ngày thấy trên các trang mạng  bạn bè ra đi tại quê nhà tại xứ người những tiếng cầu chúc, những lời chia buồn bên trời kia vẫn ngó về phía trời này tiếng vọng đau buồn chia lìa của tang quyến và người thân thuộc, để chia sẽ những hệ lụy trầm luân của người lính một thời sống chết có nhau của thời chinh chiến.

Từ ngày đến Hoa Kỳ chúng tôi không ngần ngại hơn thua đứng ra gánh vác công tác xã hội mà người tỵ nạn thường ví von “ăn cơm nhà vác ngà voi”từ công tác nhỏ bé đến công tác lớn lao không từ chối mà lại hăng say nhận lấy trách nhiệm để phục vụ đồng hương suốt bốn mươi hai năm qua và mãi đến hôm nay cũng vẫn ôm lấy trách nhiệm, không quản ngại già yếu, không thấy mệt mỏi tiếp tục làm những công tác xã hội, tuy nhiên khi về già muốn trao lại cho các con, các cháu trẻ trung, học rộng tài cao, chúng là thế hệ thứ hai, thứ ba sinh đẻ nơi xứ người hiểu được phong tục văn hóa nơi đang sinh sống, chúng biết cách giao tế từ trên cao cho đến các hóc hẽm đi vào xã hội, lớp trẻ đứng ra gánh vác công tác xã hội thì thích hợp và thành công.

Để thảnh thơi ra đi chúng ta phải thanh toán những món nợ đời, nợ tổ quốc quê hương, nợ ân tình, nợ xã hội, nợ bạn bè… những món nợ không bắt buộc nhưng chúng ta tìm mọi cách trả cho đời, gởi lại cho người trước khi đi về cõi cực lạc sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản. Hiện taị là phương tiện tương lai mới là cứu cánh là một phần thưởng dành cho quãng đời còn lại của mình. Có một người tôi muốn kể người nghe muốn chia sẻ mọi điều dù nhỏ nhất khi đã cho một giọt nắng trong buổi chiều tà cùng người vun đắp những yêu thương dù có đi mòn cả lối đời chỉ tìm thấy một hình bóng nhỏ bé ở bên cạnh tay đan tay trên con đường hạnh phúc dẫu thời gian hai mái đầu bạc phơ, vẫn yêu nhau đến hơi thở cuối cùng, theo gió mây ngàn đưa đẩy với niềm tin hy vọng chúng ta sẽ đón nhận cuộc đời tốt đẹp và hạnh phúc trước ngày giờ bước lên chuyến taù tốc hành về nơi yên nghỉ cuối cùng. Người phụ nữ tôi muốn nói đã đồng hành sau năm mươi năm lưu lạc đây đó thăng trầm vui buồn lẫn lộn chúng tôi vẫn ở bên cạnh nhau sẽ cùng nhau dẫn dắt nắm tay đi trên con đường hạnh phúc của cõi ta bà và cũng ước mong sẽ đồng hành theo nhau khi chuyển qua chuyến đò cuối cùng. Thật sự hơn bốn mươi ba năm khoảng thời gian đủ dài để hận thù lắng động, nhưng không đủ dài để xoá mờ những bi hùng đau thương có thật suốt đoạn đường tỵ nạn phải rời bỏ quê cha đất tổ sống lang thang nơi xứ người. Những ngày còn sống còn thở ra hít vào là những giờ phút muốn quên đi cuộc chiến điêu linh, tưởng nhớ đến các quân nhân cán chính đã vị quốc vong thân xin kính cẩn nghiêng mình đến các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu hy sinh cho chính nghĩa quốc gia mẹ Việt Nam đang ấp ủ hình haì của những người con thân yêu, tổ quốc Việt Nam đã vị quốc vong thân, xin các anh an nghĩ thiên thu vĩnh biệt. Chúng tôi là những người lính năm xưa, toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào chúng ta một ngày về rửa nhục để mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm người, chấm dứt đêm trường u tối đã phủ trùm lên tổ quốc suốt thời gian hơn bốn thập niên dài đằng đẵng.
Hinh01-Source-Internet

Hình minh họa – Source: Internet

Từ ngày giã từ quân đội chen chân vào dòng đời trên xứ người để được nhìn trời cao đất rộng, ngóng xa hơn lại quên đi tuổi thanh niên, tuổi đầy hoa mộng một thời còn trẻ đã đạt được ước mơ chiến đấu dũng cảm trên vùng trời miền nam, người lính trận lênh đênh như thuyền không bến, nay sống mai chết lúc nào cũng hiên ngang để thỏa chí tang bồng, nhưng lại khâm phục trìu mến ấp ủ và nâng niu trước bóng dáng của phái nữ với người đẹp, như những cánh hoa mềm mại vươn lên trước gió đang nở rộ vào buổi bình minh, những ngày đó là cả một khung trời nắng hồng tuổi thanh niên những giây phút mơ màng hão huyền, giờ nầy chỉ còn lại nước mắt của người già yếu hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo, hụt hững mỗi hơi thở là một kiếp người, hết sức bối rối tâm thần khi chuẩn bị mang theo hành trang về bên kia thế giới. Thế giới ngày nay thay đổi qúa nhanh và qúa nhiều, con người cần phải thức tĩnh càng sớm, càng nhanh, càng tốt với số tuổi gần đất xa trời, với hình hài nhỏ bé không gánh nỗi những ngang trái, những hệ lụy thế lực nghịch cảnh chướng duyên của xã hội hiện nay. Nhớ lại thời chinh chiến, hình ảnh và những tiếng long trời lỡ đất của đại bác hằng đêm vang cả một gốc trời, tiếng gầm thét của những con chim sắt tung mây lướt gió ngoài mặt trận để ngăn bước quân thù, những quả mìn xé nát màn đêm trong phòng tuyến còn văng vẳng đâu đây, đã hằn sâu trong ký ức của người lính già. Tôi rời quê hương, khi tuổi vừa ba mươi coi như nửa đời người không than trời trách đất, mang theo cuộc chiến đã tàn và một đất nước chỉ còn trong tâm tưởng. Con đường chúng ta trong tương lai còn rất dài và rất gian khổ, thế hệ thứ nhất đã mỏi mòn rồi, những người ở lứa tuổi chúng tôi chỉ còn sống trong giấc mộng trầm kha của thời xa xưa, niên lão sống về quá khứ. Những chuyện xảy ra ở chiến trường mấy mươi năm về trước, tôi không thể nào quên được. Lý tưởng, niềm tin, niềm hân hoan sau những trận chiến thắng và cả những nỗi kinh hoàng khi phải đối diện với cái chết của đồng đội chưa bị phai mờ, cho dù tôi đã bước ra khỏi cuộc chiến hơn bốn mươi hai năm.

Các bậc cha mẹ, xin đừng coi con cái là điều quan tâm duy nhất trong cuộc đời, đừng vì con cái mà khép lại cánh cửa giao tiếp với xã hội, cũng đừng vì con cái mà bỏ lỡ niềm đam mê sở thích của bản thân mình. Chúng ta không mong cầu con cái trở nên hoàn hảo, cũng không cần chúng phải nuôi dưỡng khi về già, chỉ cần chúng có thể sống độc lập và giữ trọn lòng hiếu thảo với cha mẹ, vậy là chúng ta đã làm một người cha, một người mẹ đáng qúy và thành công rồi đó. Không bi quan nhưng lại rất thực tế, khi về già chúng ta đừng do dự phải chuẩn bị tư tưởng là sẽ vào nursing home là một nơi tiện lợi nhất, hợp tình hợp lý nhất, không cần phải suy nghĩ đắn đo thêm nhức đầu, nhức ốc chúng ta chỉ theo những người đi trước đã đi qua một cách thoải mái và thanh thản.

Luôn có những tia sáng hy vọng dành cho những người may mắn được góp mặt trên cõi đời này dù cuộc đời có bị vùi dập đến đâu đi chăng nữa cũng cảm thấy thỏa mãn và bằng lòng khi mình sắp từ giã cõi tạm, tâm hồn lắng lại như chiếc lá vàng đang lìa cành trước gió  đông một đời trốn chạy qúa khứ nay phải trốn chạy trách nhiệm và bổn phận đối với quê hương tạo vết cắt vô hình trong tim, trong ốc tôi không cầm giữ được trong mình, nên bật thành tiếng nấc nghẹn ngào đang quằn quại và giẫy giụa trong tâm trí mặc dù đang ở nhà cao cửa rộng, nằm trên chăn ấm nệm êm, ở bên ngoài căn nhà ánh nắng mùa Xuân lấp ló, rọi qua những tàn cây tạo thành những vạt nắng lung linh trên các bãi cỏ xanh, những màu đỏ trắng vàng rực rỡ của các loại hoa trái mùa đang nở rộ để đón Xuân, trước ngõ vào, cây mai đứng sừng sững rụng hết lá đang đâm nụ chuẩn bị nở hoa để đón chào Xuân Mậu Tuất.

Thời gian qúa lâu, tôi cứ tưởng trời đất đã xoá mờ cuộc chiến điêu tàn mà tôi đã traỉ qua, tôi không khơi dậy một niềm đau, không nhắc lại một nỗi nhớ nhưng tâm tôi không giấu được một qúa khứ đau thương, trong lòng buồn tê tái con tim đau nhức nhối, nhưng tâm hồn tôi cố che giấu cảm xúc nên bình an thanh thản khi tuổi xế chiều. Giữa không gian thê lương cố hữu, ở nơi chôn cất nỗi buồn man mác, chiếm hữu tâm hồn người viễn xứ, tự hỏi lòng mình tôi đến từ đâu?./.

Nguyễn Trà

 

Tâm Tình từ khóa đầu đàn K1A

                                                         TÂM TÌNH

Kính thưa:  Qúy thầy cô

Các bạn và các em

                     Tôi là Nguyễn Trà  K1 Kiểu Mẫu Huế (1964 – 1968)

  Từ ngày trường đómg cửa đến nay hơn bốn mươi năm chưa có cơ duyên trở về thăm trường xưa thầy cũ và bạn bè, nhưng vẫn theo dõi trên các trang mạng điện tử hoặc các bạn bè qua về từ quốc nội và hải ngoại cũng như các năm tổ chức hội ngộ của trường tại Mỹ và Việt Nam, không nhiều thì ít vẫn biết đời sống của qúy thầy cô, các bạn và các lớp về sau.

  Riêng cá nhân tôi rất hãnh diện và tự hào k1, không lâu gặp một em k7 tâm sự với tôi rằng “ các anh chị k1 chúng tôi rất kính nễ ngoài tuổi tác lớn ra, các anh chị thật là những người gương mẫu, đứng đắn dù có một đôi anh chị thiếu may mắn, túng thiếu nghèo khó nhưng vẫn giữ tư cách của một người anh người chị, ngòai đời nhanh nhẹn đối xử đáp ứng với cuộc sống “ Tôi hỏi tiếp không phải vì các anh các chị thông minh học giỏi, đổ đạt thành tài? Em trả lời “ vâng, dĩ nhiên là những học sinh xuất sắc được tuyển lựa từ các trường tư thục thời đó” nghe xong câu chuyện tôi cảm thấy nở mặt nở mày vì tôi đã ở trong k1 của trường Kiểu Mẫu

  Câu chuyện dài dòng vòng vo tam quốc, tôi xin thưa đi thẳng vào câu chuyện hôm nay tôi muốn đưa ra. Thưa qúy Thấy Cô các bạn k1 thân mến. Ngày nay qúy thầy cô, các bạn các em theo luật vô thường  đã ra đi khá nhiều, một số bị bênh tật già yếu nên chúng ta gom góp laị từ K1 đến K cuối cùng với danh xưng cựu học sinh trường Kiểu Mẫu Huế, chúng tôi ở hải ngoại hứa cùng các bạn sẽ đóng góp tinh thần vật chất yễm trợ hướng về trường xưa bạn cũ, tuy nhiên chúng ta không quên rằng k1 lúc nào cũng làm gương và gánh vác những gì cảm thấy thua thiệt và khó chịu vì chúng ta đã được dạy bảo qua ngôi trường mang tên KIỄU MẪU. Tôi hy vọng rằng ý kiến của tôi được qúy thầy cô và các bạn tán thành và đồng ý. Năm mới chúc qúy thầy cô, các bạn các em một năm nhiều sức khỏe và an lạc

 Ghi chú: Tôi mong comment của các bạn k1