Rừng biển không xa – Kỳ 04

RỪNG BIỂN KHÔNG XA – Kỳ 4
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Mới 4: 20 sáng, phó nháy Sum, đã lục đục dậy, chuẩn bị hành trang, khoác thêm áo gió, để lên Vọng Hải đài đón bình minh.
Mượn xe máy của nhân viên khách sạn, hai du tử lên đường.
Trên đường gặp ba du khách nước ngoài cùng một hướng dẫn viên Việt cũng đang lội bộ lên.
Rbkx4-01
Phó nháy ngồi trên nóc Hải Vọng Đài, phía trước là núi Truồi, với một màn mây trắng dày bao phủ.
Rbkx4-02
Phó nhòm amateur đưa mắt nhìn ra biển, bình thản chào đón ánh bình minh. Gió thổi mạnh và trời se se lạnh.
Rbkx4-03
Nhìn xuống phía bên phải có thể thấy tượng ngựa đá, bia đề Non Thiêng Bạch Mã và chuông cầu nguyện mà cả bọn ngồi chơi tối qua.
Rbkx4-04
Phía bên dưới là con đường đèo ngoằn ngoèo dài 19km đi từ thị trấn Phú Lộc lên.
Rbkx4-05
Tầng trên của Hải Vọng Đài.
Rbkx4-06
Đứng bên trong đài đỡ lạnh hơn và vẫn nhìn thấy núi rừng.
Rbkx4-07
Trời dần sáng hơn. Xung quanh đài ngắm biển đâu đâu cũng thấy núi non chập chùng, mây trắng giăng mắc.
Nhìn về hướng biển cũng sương trắng mịt mù. Thế này thì không thể thấy hình ảnh mặt trời lên, thôi đành giã từ đỉnh Bạch Mã.
Rbkx4-08
Trên đường xuống hai du tử ghé thăm vài khách sạn. Trước đây công ty Sài gòn-Morin đầu tư sửa chữa, sau đó chuyển giao cho công ty du lịch Hương Giang.
Còn bây giờ công ty du lịch Thanh Tâm quản lý.
Rbkx4-09
Từ sân khách sạn nhìn ra thấy núi rừng và cây cối khá kỳ lạ.
Rbkx4-10
Hai ngọn núi trẻ vươn lên kề nhau, đỉnh nhọn hoắc. Phong cảnh thật là kỳ thú.
Rbkx4-11
Một khách sạn khác tên là Phong Lan, hình như mới được nâng cấp, chưa sử dụng.
Rbkx4-12
Bên kia đường có cả hồ bơi và nhà hàng. Một cơ sở du lịch như thế này mà chưa có khách thật tiếc. Khách du ưa thích thiên nhiên, phiêu lưu mạo hiểm ở xứ ta còn ít chăng?
Các đoàn thể thanh thiếu niên ngày nay ít chú trọng chương trình ngoại khóa, giáo dục tình yêu và lối sống gần gũi thiên nhiên. Những cựu hướng đạo sinh mà nhìn thấy cảnh sắc này
thì say mê ngay.
Rbkx4-13
Các chiến hữu gọi về ăn sáng. Ở bàn ăn bên cạnh, khách du lịch gặp ở Hải Vọng Đài cũng tỏ dấu hiệu thân thiện.
Rbkx4-14
Đôi trẻ này đang tích trữ năng lượng để chinh phục thác Đỗ Quyên. Ăn hết chừng này bánh chưng thì đi đâu cũng tới!
Rbkx4-15
Trong khi các du tử khác vẫn tranh thủ chút thời gian cỏn lại chụp hình trước khi check out.
Rbkx4-16
Lên xe rồi vẫn ngoái đầu nhìn lại gian bếp tranh có lò nướng barbecue, cũng là nơi đặt bàn ăn ngoài trời.
Rbkx4-17
Xe đi ngược dốc một đoạn để nhóm du tử thăm Bạch Vân Tự, một ngôi chùa cổ nhưng lại có hai tượng Phật mới chưa biết nên an vị ở đâu.
Rbkx4-18
Bức tường thì cổ, nhưng tượng hộ pháp thì mới. Chùa bây giờ do hai cư sĩ già trông coi. Người ta tin rằng ở những nơi rừng núi linh thiêng, thần với ma có thể cư trú đâu đó xung quanh, thì nên dựng chùa, thờ Phật, vì Phật là thầy dạy cả người lẫn chư thiên. Nơi nào có Phật ngự, con người không còn bị đe dọa bởi những thế lực vô hình.
Rbkx4-19
Điện Phật nhỏ với tường và nền cũ kỹ, nhưng bàn thờ có vẻ mới được chăm chút.
Rbkx4-20
Trên đường đi đến thác, khách du có thể nhìn thấy những bụi đỗ quyên nghiêng mình soi bóng bên dòng suối.
Rbkx4-21
Nước trong veo có thể nhìn thấy đáy.
Rbkx4-22
Hai nữ du tử Minh, Hoa tạm dừng chân trên đỉnh thác Đỗ Quyên. Công tử Thanh Kongkong cũng ở lại để “bảo vệ” hai người đẹp.
Thác cao 300m với 689 bậc cấp là cuộc chơi dành cho những du khách có sức khỏe tốt. Huệ MC trẻ nhất, xung phong đi đầu.
Có một thân cây ngã chắn ngang đường nhưng nhân viên vười quốc gia “chưa kịp” dọn.
Rbkx4-23
Du tử thứ hai trông rất “ngầu”: Cao bồi miền Tây (Tiền Giang), còn có biệt danh Hai Lúa!
Du tử đội mũ bê-rê tuyên bố chỉ dạo bước vài chục bậc thôi.
Rbkx4-24
Cám ơn “tiền nhân” đã làm tay vịn bằng sắt ở hai bên bậc cấp để hỗ trợ dân leo núi.
Rbkx4-25
Nhưng có những đoạn tay vịn bằng sắt gỉ sét, đổ ngã chưa được bảo trì.
Kinh nghiệm đi xuống: chân trước đặt xuống bậc cấp dưới nhè nhẹ, khi chạm mặt đất rồi mới dồn trọng lượng cơ thể tới trước và chân kia bước xuống theo, từng bậc một.
Khi đi lên thì dồn trọng lượng về đằng trước ngay. Chân sau bước lên nhẹ nhàng theo chân trước, cũng bước từng bậc một, không nên bước mỗi chân mỗi bậc như bình thường.
Có thể dùng gậy chống. Nên dừng nghỉ ở những khoảng cách đều đặn, chẳng hạn 20 bậc cấp, dừng lại thở mạnh vài hơi, ngắm hoa lá cành rồi đi tiếp.
Rbkx4-26
Cao bồi miền Tây Thanh Liên đến đích sau phó nháy Sum và MC Huệ mà la ỏm tỏi!
Rbkx4-27
Hai chị em chụp hình dưới chân thác.
Rbkx4-28
Trong khi ba du tử yên chí chỉ có ba chúng mình thôi nhé thì người thứ tư xuất hiện! Cả bọn reo mừng.
Rbkx4-29
Ba “tay chơi” chụp chung, phó nháy thiệt thòi vì không có mặt trong hình.
Rbkx4-30
Nhưng không sao, phó nhòm đã chộp hình phó nháy đây rồi.
Rbkx4-31
Sau khi ngồi dưới chân thác nghỉ ngơi và tán chuyện đã đời, bốn du tử quay trở lên. Đây là màn đu dây kiểu Tarzan cuối cùng, đầy ấn tượng của Cao bồi miền Tây.
Cuộc chơi nào cũng có hồi kết thúc. Bạn bè phải chia tay, không biết nói lời nào để cám ơn nhau cho vừa, cám ơn nhà tổ chức tour kiêm phó nháy, cám ơn những ông Tây đã khám phá và xây dựng khu nghỉ mát Bạch Mã, đã xây dựng những tiện nghi ăn ở và những con đường xuyên rừng thú vị, cám ơn những nhà bảo tồn đã giữ được nét nguyên sơ, tịch mịch cho núi rừng.
Hẹn gặp lại những du tử có lòng yêu mến thiên nhiên, quí trọng rừng xanh biển biếc. Rừng biển không xa và chúng ta vẫn gần nhau trong thú rong chơi ta bà.

Rừng biển không xa – Kỳ 03

RỪNG BIỂN KHÔNG XA – Kỳ 3
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Hôm nay là ngày thứ hai của tour khám phá rừng biển. Ngày hôm qua đi xuống biển là một chuyến đi không có gì gian khổ. Nhưng cuộc lữ hôm nay, đi lên rừng, là một thách thức đối với sức khỏe, đặc biệt là với các du tử KMH, vì tất cả đều ở lứa tuổi “U60 đời cuối” và “U70 đời đầu”.
Bốn nữ du tử khóa 2 đã tạm biệt cuộc chơi. Trong số những “đấng nữ nhi” còn ở lại, “sung” nhất có lẽ là Huệ MC, K9, và “cao bồi Tiền Giang” Liên, K2. Phan Hoa và Minh, K2, vì “ham vui” với bạn cho nên vẫn lên đường, mặc dầu chiều qua, lúc gần về tới nhà, Minh có thổi kèn trom-pet ò e (ò, e, nặng). Còn ba nam du tử thì “sung” nhất là tour guide kiêm phó nháy Sum, K8, thứ nhì là lão Kong Kong. Nơi nào có bóng hồng phấp phới, là lão “tươi tỉnh” như một công tử hào hoa phong độ. Người thứ ba, mặc áo trắng trong hình dưới đây, dĩ nhiên là đứng hạng chót. Nhưng nhờ hai em gái áo đỏ khoác tay nên cũng “xăng xái” vượt suối băng ngàn.
Rbkx3-01
Nhóm du tử đang ở cửa rừng, sẵn sàng “phi” lên đỉnh Bạch Mã.
Rbkx3-02
Trên đường đi, các du tử thỉnh thoảng dừng lại ngắm rừng cây. Mọi người thích thú nhìn những cây thích lá đỏ tô điểm cho rừng xanh.
Và kia là núi Truồi, đứng cạnh hồ Truồi. Núi Truồi thường mờ mịt trong sương, nhưng giờ này sương đã tan nhờ mặt trời lên cao.
Chợt nhớ câu ca dao:
Núi Truồi ai đắp mà cao?
Sông Nong ai bới, ai đào mà sâu? (dị bản: sông Gianh, sông Dinh).
Núi Truồi cao đến 1.154m. Tên chữ của núi là Ấn Lĩnh.
Rbkx3-03
Hồ Truồi là hồ thủy lợi, được xây dựng năm 1996, với sức chứa khoảng 6o triệu mét khối nước.
Trên ngọn đồi trông như hòn đảo kia có Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, xây dựng năm 2009, đã trở thành một danh lam thắng cảnh của vườn quốc gia.
Rbkx3-04
Trạm dừng kế tiếp là rừng chò đen. Chò đen là một loại cây cho gỗ tốt, và được ghi vào sách đỏ – được bảo vệ để tránh nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên, ở đất Thừa Thiên, chò đen không phải là loài cây quí hiếm vì còn cả khu rừng. Ở Nam Đông, Phú Lộc đều còn chò đen. Chò đen chỉ đen ở màu da, bên trong gỗ màu vàng hay nâu sẫm.
Rbkx3-05
Vì rừng chò nằm trong một thung lũng có độ dốc lớn cho nên người ta có giăng dây làm tay vịn, hỗ trợ cho các tay leo núi. Thay cho các bậc cấp, người ta dùng các thanh gỗ ngang, buộc lại với nhau. Rất tiếc là cầu thang này chỉ dài khoảng 20m cho nên nhóm chỉ chơi loanh quanh đây.
Rbkx3-06
Huệ MC đu lên dây, đóng vai con cháu Tarzan.
Rbkx3-07
Cao bồi Phan Hoa, đến từ xứ Ohio, Hoa Kỳ, cũng không chịu thua!
Rbkx3-08
Cao bồi Tiền Giang thì nhào tới một thân cây chò để đo đường kính bằng sãi tay.
Rbkx3-09
Du tử Minh kèn trompet e ấp nép vào gốc chò đen.
Rbkx3-10
Sau khi “hành hạ” ba phó nhòm, chụp hình đủ các kiểu, nhóm nữ du tử không leo nữa, mà bò lên lại cho chắc ăn!

Rbkx3-11Đến biệt thự Bạch Mã, nhóm du tử ăn trưa ngoài trời, với bàn ăn trải khăn đỏ, sang như Tây “mấy lần” (mấy lần = hồi xưa).
Ngồi chính giữa là “bác tài”, người không tham gia cuộc chơi, chỉ tham gia “cuộc ăn”!
Rbkx3-12
Đây là nhà khách, nơi đóng tổng hành dinh của nhóm du tử.
Rbkx3-13
Sau khi nghỉ trưa, nhóm mang ba lô, xách túi lên đường tới ngũ hồ.
Rbkx3-14
Phải bước đi trên đá hơi đau chân , ai cũng lom khom, cẩn thận.
Rbkx3-15
Minh và Phan Hoa bằng lòng ngồi chơi ở nơi đây, không “bon chen” đi xa hơn nữa.
Rbkx3-16
Hai đứa cháu của Tarzan thì say mê lội nước theo sát chân phó nhòm Sum đi xuống hồ 2, hồ 3.
Rbkx3-17
Hai cô nàng thỏa sức thám hiểm rừng xanh.
Rbkx3-18
Hai người chia đôi thác nước, thả xuống ghềnh đá, đẹp như hai tấm lụa đào.
Rbkx3-19
Rồi chia nhau cả thảm hoa đỗ quyên bên bờ suối.
Rbkx3-20
Nàng cao bồi Tiền Giang còn hái cả lá dương xỉ cài lên mái tóc để chụp hình và có người bình luận “người mô mà giống như ở trại tâm thần mới sổng ra.”
Rbkx3-21
Lại một hồ nhỏ , nước trong vắt.
Rbkx3-22
Trên đường về, nhóm du tử leo lên chòi canh lửa để ngắm đất trời.
Rbkx3-23
Ngắm núi rừng đang chìm dần trong bóng hoàng hôn.
Rbkx3-24
Buổi tối bàn ăn trải khăn trắng, thưởng thức món ăn, thưởng thức cuộc sống từng phút giây.
Rbkx3-25
Buổi tối chỉ với một cây đèn pin, cả bọn bước lò dò trong bóng đêm, lên Vọng Hải đài ngắm trăng, nhưng trăng đâu chẳng thấy, chỉ thấy bầu trời tối om om. Cả bọn ngồi lại bên chiếc chuông đồng ngoài trời.
Vào bên trong đài, tối mò mò, Thanh Kong Kong ôm đàn ghi ta đánh, Phan Hoa ôm một ba lô làm bạn nhảy. Huệ MC cùng Minh làm thành một “cặp đôi hoàn hảo” và cứ thế mà hát, mà múa như điên, như khùng.
Hai lão du tử kia leo lên trên mái đài ngồi chờ trăng lên, nhưng trăng nhất định không lên.
Sau rốt cả bọn cùng nhau lên ngồi trên mái đài Hải Vọng, chờ hoài một ảo vọng. Thanh Kong Kong cất tiếng phá tan sự im lặng: Có chi mô nà! Cả bọn cười vang và leo xuống, hài lòng vì đã vui chơi một ngày, không giống ngày nào khác trong cuộc đời.
(còn tiếp)

Rừng biển không xa – Kỳ 02

RỪNG BIỂN KHÔNG XA – Kỳ 2
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Sau khi bữa ăn trưa và nghỉ ngơi, đoàn du tử tiếp tục lên đường đến Thúy Vân Sơn.
Rbkx2-01
Như mọi người đã biết, chùa trên núi Thúy, hay Túy Vân tương truyền là do chúa Nguyễn Phúc Tần xây vào thế kỷ XVII. Nhưng sau này, được vua Minh Mạng trùng kiến năm 1836 và sắc phong là Thánh Duyên Quốc tự.
Vua Tự Đức có đề thơ, tả cảnh đẹp nơi này, và khắc vào bia đặt ở chân núi.
Rbkx2-02
Vua Minh Mạng cũng có làm thơ, khắc trên tấm bia này, đặt bên trái chánh điện hay điện Đại Hùng.
Rbkx2-03
Sau lưng nhóm du tử là Đại Từ Các, ở lưng chừng núi Thúy.
Rbkx2-04
Cách một đoạn dốc, và nằm trên đỉnh núi là tháp Điều Ngự thờ các Đức Phật.
Rbkx2-05
Sau lưng tháp Điều Ngự có lầu Vọng Hải.
Rbkx2-06
Từ trên lầu này nhìn xuống là đầm Cầu Hai (trước kia gọi là đầm Hà Trung, nhưng hiện nay trên bản đồ ghi đầm Hà Trung ở khu vực gần tháp Phú Diên).
Rbkx2-07
Từ đây nhìn ra biển có thể thấy núi Linh Thái hay Quy Sơn, gọi nôm na là núi Rùa. Trên đó xưa kia có tháp Chăm, nhưng chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho dời đi và xây chùa trên nền tháp.
Đến nay chùa và tháp đều không còn dấu vết. Đây là ngọn núi đứng bên cạnh cửa biển Tư HIền.
Rbkx2-08
Khi xuống núi, đoàn du tử ra ngắm cầu và cửa biển Tư Hiền.
Rbkx2-09
Có một du tử lầm lũi đi ra bãi cát dài chạy từ chân núi Rùa xuống để tận mắt nhìn ngắm thật gần cửa biển.
Rbkx2-10
Đây là cửa biển, bên kia là vùng núi Cù Dù và mũi Chân Mây Tây. Đây có lẽ là nơi Công Chúa Huyền Trân, trên đường sang Chiêm quốc đã dừng chân bái vọng tổ tiên nước Việt năm 1306. Vua Trần Anh Tông đã đặt tên là cửa Tư Dung, để tưởng nhớ một giai nhân vì mối hòa hiếu giữa hai đất nước mà hy sinh hạnh phúc riêng mình.
Đời nhà Mạc do kỵ húy tên Mạc Đăng Dung, cửa biển này được gọi là Tư Khách; sang thời nhà Nguyễn, có lẽ vì nơi đây sóng yên, biển lặng, phong cảnh thật bình yên nên đổi thành Tư HIền.
Rbkx2-11
Ngoái nhìn lui sau là cầu Tư HIền và xa xa là dãy Trường Sơn trùng điệp.
Rbkx2-12
Bãi cát này có một cồn nổi lên như một bức tường thành.
Rbkx2-013
Để đi tới bãi đá này du tử phải đi bộ có lẽ hơn 1.000m.
Rbkx2-14
Du tử nhập bọn với các tiên nữ đã đến bãi tắm và vẫy vùng trên sóng nước trước đó.
Rbkx2-15
Sau khi đùa giỡn trên sóng biển Đông, các tiên nữ lên ngồi trên bãi đá và biến thành các mỹ nhân ngư.
Rbkx2-16
Chiều xuống trên bãi đá dưới chân núi Rùa.
Dù lưu luyến, nhóm du tử phải giã từ biển cả, trở về thành phố nghỉ ngơi, chuẩn bị cho cuộc hành trình lên núi ngày mai.
(còn tiếp)

Rừng biển không xa – Kỳ 01

RỪNG BIỂN KHÔNG XA – Kỳ 1
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Ở xứ sở “thay trời hành đạo” này rừng và biển không cách xa nhau, còn đối với những du tử thích đi ta bà, thì rừng biển rất gần. Hơn nữa, khách du nhiều kinh nghiệm đều biết đường xa làm bạn bè xích lại gần hơn. Vì thế cho nên sau buổi họp mặt 50 năm nghĩa tình Kiểu Mẫu –  8/6/2014 – phó nhòm Nguyễn Văn Sum, K8, tổ chức tour Âu Lạc, rủ rê các du tử KM đi về biển rồi ngược lên rừng.
Cuộc lữ kéo dài 3 ngày để nối vòng tay cựu học sinh các khóa. Ngày đầu tiên đi về hướng đầm phá Tam Giang và cửa biển Tư Hiền. Ngày thứ hai và ba đi lên vườn quốc gia Bạch Mã.
Ngày thứ nhất có 11 du tử tham gia. Ngày thứ hai có 4 nữ du tử bỏ cuộc chơi. Ngày thứ ba, trong chuyến đi xuống chân thác Đỗ Quyên, chỉ còn bốn trự , trong đó có 1 trự nữ K9, 1 K8, 1 nữ K2, và 1 K1.
Hầu hết các trạm dừng chân trong cuộc hành trình đều đã được mô tả trong các bài ký sự đường xa trước đây, nhưng cảm xúc trước tình cảm bạn bè và ấn tượng trước cái đẹp của đất trời thì luôn luôn tươi mới.
Xe 16 chỗ bon bon trên đường 49 hướng về Thuận An, gần tới cầu Diên Trường rẽ trái qua cầu 0km+ 148, bắc qua sông Diên Trường, rồi chạy đến đập Thảo Long. Trời nhiều mây và dịu mát, nhưng các bác phó nhòm thì thấp thỏm lo là ảnh có thể không sáng sủa cho lắm.
Rbkx1-01
Trạm dừng chân đầu tiên: cầu và đập Thảo Long – bên trên là cầu, dài gần 600m, dưới là đập, dùng để ngăn không cho nước mặn vào sông Hương, xây dựng năm 2006 ở cuối dòng, nơi sông sắp gặp phá Tam Giang và cửa Thuận. Nhóm du tử lọ mọ xuống chân cầu để xem cái đập nó ra làm sao.
Trên đường đi thấy nhiều viên “thuốc tể” tròn tròn, nhưng không biết ông “thầy thuốc” trú ẩn nơi nao.
Sau khi xem “mãn nhãn” và nghe các “tour guides” giải thích công dụng của đập rồi thì có một du tử la lên: “Nhìn kìa!” khi thấy một bầy các “chú 35″ nằm bên cạnh các “em”, núp dưới bóng mát của dầm cầu.
Rbkx1-02
Thanh Kongkong nhận ra một chú là bạn “đồng song”, trước kia cùng đi học cua (ngoại khóa) trên núi! Thời xa xưa ấy đối với nhiều người là “thời cắp sách”, còn đối với Thanh Kongkong, cũng là “thuở cắp sừng”!
Có một câu hỏi đưa ra lúc ấy: “Em” này thuộc giống đực hay giống cái?
Câu trả lời không khó: có sừng là dê đực, nhưng có một điều mà nhiều người chưa biết là cả dê đực lẫn dê cái đều có râu! Vui hè! Mới đi một bước đàng mà đã học một sàng khôn rồi!
Rbkx1-03
Những chiếc áo vàng, áo đỏ (hình như du nhập từ Thái Lan)  làm sáng một góc trời. Hai phó nhòm Sum và Thanh Kongkong bấm máy lia chia.
Rbkx1-04
Trạm dừng chân thứ hai: cầu Tam Giang mà dân gian quen gọi là cầu Ca Cút. Cầu dài hơn 600m, rộng 9m, bắc qua phá Tam Giang năm 2010.
Trước kia, tại đây có bến đò Ca Cút, đi từ làng Vân Quật Đông, xã Hương Phong, huyện Hương Trà sang bên kia phá là làng Thai Dương Hạ, xã Hải Dương, huyện Phú Vang. Không ai biết ý nghĩa của từ “Ca Cút”, chỉ biết rằng hồi xưa chỉ có một chiếc đò đưa khách sang ngang, cho nên khách phải chờ rất lâu. Vì vậy, khi gọi ai đó mà người đó không nghe, hay chậm trả lời thì người ta hay ví von là “kêu như kêu đò Ca Cút”.
Rbkx1-05
Phía bên kia cầu Ca Cút là cồn cát dài, ngăn cách biển với phá, chạy từ ngoài làng Điền Hương, Điền Hòa vào tới tận cửa Tư Hiền.
Rbkx1-06
Trạm thứ ba: Cồn Tè, nguyên là một cái cồn nổi lên giữa phá, đối diện với cửa biển Thuận An. Sau này người ta đắp một con đường chạy ra đó, gọi là đường quốc phòng, nơi có mấy ụ pháo, dùng làm trận địa khi có chiến tranh. Đây là vùng nước lợ, nơi có một loài rong, gọi là rong hẹ, nuôi sống rất nhiều loài cá nhỏ. Người ta đắp đất tạo ra những đìa nhỏ để nuôi cá.
Đối với dân nhậu thì đây là một điểm hẹn lý tưởng, nơi có  cá tôm tươi rẻ. Người ta xây nhiều nhà chồ (nhà giàn) để từng nhóm đệ tử lưu linh tụ họp. Và điều họ khoái nhất có lẽ là ở đây “tha hồ tè” !
Rbkx1-07
Trạm thứ tư : Rú Chá là một loại rừng ngập mặn, nằm cuối làng Thuận Hòa, xã Hương Phong, nhìn sang bên kia là làng Thai Dương Hạ.
Cây chá trước đây thường được lấy làm củi hay phá đi để làm đìa nuôi tôm cá, cho nên diện tích rú không còn được bao nhiêu. Ngày nay, người ta nhận ra được lợi ích của rừng ngập mặn – là nơi nhiều loài thủy sản và cả loài chim di trú dùng làm nơi trú ẩn và sinh sản cho nên rú được bảo tồn, đồng thời khai thác làm nơi du lịch sinh thái, rộng khoảng 5ha.
Rbkx1-08
Ở trong rú chi chít hang còng.
Rbkx1-09
Gốc cây chá đẹp như những cây cảnh.
Rbkx1-10
Không thấy có khỉ nên các o tha hồ leo trèo, đùa giỡn như . . . lũ nhóc ở núi Hoa Quả, đàn em Tôn Ngộ Không.
Rbkx1-11
Và quan trọng là ngồi bên nhau, cùng ngắm trời mây, có phải không?
Xe đi qua cầu mới Thuận An, xây năm 2007, khách du nhìn thấy cây cầu cũ song song, xây năm 1987 (cây cầu chỉ xài được 20 năm, trong khi một cây cầu, thông thường,  phải xài cả 100 năm!?).
Xe đi qua bãi biển Hòa Duân và Trấn Hải Thành, một di tích lịch sử, là đồn lũy chống cự cuộc tấn công của quân Pháp vào cửa Thuận năm 1883.  Thoáng thấy một con đường mang tên Lê Sĩ, vị tướng thủ thành lúc ấy.
Rbkx1-12
Trạm dừng thứ năm: tháp Phú Diên. Đây là ngôi tháp Chăm còn khá nguyên vẹn, chỉ mất phần đỉnh, được dân đi đào quặng Titan khám phá năm 1997, được giới khảo cổ khai quật và làm lồng kính bảo tồn năm 2001.
Theo các nhà khảo cổ, tháp này có niên đại thế kỷ thứ VIII, vào hàng cổ nhất nước! Bên trong có bệ thờ Yoni.
Bên ngoài tháp còn có dấu tích của một nền tháp khác và một bệ thờ.
Rbkx1-13
Nhóm du tử dừng chân ăn trưa tại bãi biển Phú Diên.
Đồ ăn mang theo đều ngon, chỉ có món cháo hàu, cháo hến gì đó do quán hàng cung cấp tại chỗ là . . .  hoang dã (hay dã man hè?).

(còn tiếp)

Dọc đường gió bụi – Kỳ 04

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI – Kỳ 4
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Từ nhà Bùi Thị Nhàn ra, Hoa Lý K1B xin cáo lui vì sợ trời nắng tim sẽ loạn nhịp. Nhóm chiến binh lên ngựa sắt, đi tiếp con đường từ Hương Cần ra làng La Vân Thượng và rẽ trái qua làng Phước Yên, dự tính sẽ ra làng Bao La thăm mộ Nguyễn Ngọc Lâm.
Ddgb4-01
Bên phía trái con đường là một chi lưu của sông Bồ, bao bọc làng Phước Yên ở ba hướng đông, tây và nam. Trên sông rải rác có vài bè nuôi cá. Đằng xa là dãy Trường Sơn.
Phước Yên nay thuộc huyện Quảng Điền, là nơi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) chọn làm nơi đặt phủ chúa vào năm 1626 (cho tới năm 1636). Trước đó, Nguyễn Hoàng (1558-1613) đặt dinh (sở chỉ huy) ở Ái Tử, rồi Trà Bát và Dinh Cát, thuộc Quảng Trị.
Trước đây, dân làng Phước Yên thường được tuyển vào hai đơn vị phụ trách nấu ăn trong cung là Ty Lý Thiện, chuyên làm cỗ bàn cúng tế, yến tiệc, và Ty Thượng Thiện, chuyên nấu cơm cho vua.
Ngày nay làng Phước Yên chuyên trồng rau má. Quanh làng, ruộng rau má mênh mông.
Ddgb4-02
Người dân đang thu hoạch rau má.
Ddgb4-03
Nằm giữa cánh đồng rau má là miếu thờ tướng Nguyễn Hữu Dật (1604-1681), một trong bốn khai quốc công thần đời các chúa Nguyễn (ba người kia là Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Cảnh – con của Nguyễn Hữu Dật). Cha ông cũng làm tướng : Nguyễn Triều Văn, và ba con đều làm tướng (ngoài Nguyễn Hữu Cảnh, còn có Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Dũng).
Sau lưng miếu là ụ Ông Voi, tương truyền là mộ một con voi chiến.
Vượt qua chợ Trà Kệ, qua làng Thanh Lương, lẽ ra có thể theo đường làng khoảng 2 km ra quốc lộ 1, tiểu đội trưởng Uynh lại lệnh cho đồng đội rẽ tay phải, dọc theo sông Bồ, tìm đường tắt ra cầu Tứ Phú. Khi thấy con đường dẫn đến cầu Tân Xuân Lai, kế đó là cầu Niêm Phò, chiến binh Bảo biết là đã lạc đường, vì như thế là đang quay trở lại làng Hương Cần, bèn báo với tiểu đội trưởng tập hợp đồng đội tại cầu Niêm Phò, uống nước mía và hỏi lại đường đi.
Ddgb4-04
Sau khi nghỉ ngơi khoảng 15 phút, tiểu đội lên đường. Lần này con đường lại dẫn đến làng Bác Vọng và đi ngang qua lăng Đặng Hữu Phổ, là liệt sĩ thời Nguyễn. Ông là con của Phò Mã Đặng Huy Cát và Công Chúa Tĩnh Hòa (tức nhà thơ Huệ Phố). Ông đỗ cử nhân năm 1878 và làm quan tới chức Thị Độc Học Sĩ (ở Hàn Lâm Viện). Ông cùng cha được Thượng Thư Tôn Thất Thuyết giao chuẩn bị căn cứ kháng chiến Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) và lập đội nghĩa quân Đoàn Kiệt. Khi Tôn Thất Thuyết đánh Tòa Khâm thì ông cũng đánh vào Huyện Nha Quảng Điền. Trận đánh thất bại. Ông và cha đều bị bắt. Phò Mã Đặng Huy Cát bị án chém, nhưng chưa giết ngay, còn ông bị xử tử tại bến đò Quai Vạc, làng Bác Vọng. Tại đây dân làng lập miếu thờ ông, gọi là miếu Thị Độc.
Ddgb4-05
Mộ và bia Đặng Hữu Phổ
Ddgb4-06
Mộ Công Chúa Tĩnh Hòa, mẹ Đặng Hữu Phổ ở bên cạnh.
Ddgb4-07
Các chiến binh dâng hương tưởng nhớ vị anh hùng.
Bác Vọng nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, lại là nơi chúa Nguyễn Phúc Chu chọn làm nơi đặt phủ chúa vào năm 1712 (cho đến năm 1738, đời chúa Nguyễn Phúc Chú).
Từ làng Bác vọng đi ra thì gặp đình làng Bao La, ngôi làng có nghề truyền thống đan thúng mủng bằng mây tre.
Ddgb4-08
Mộ Nguyễn Ngọc Lâm nằm cách đình làng khoảng 1km, trên một gò đất cao, cạnh cánh đồng, không xa đường cái.
Lâm mất năm 1969 khi còn học lớp đệ nhị B (lớp 11) vì bị một người bệnh tâm thần trong xóm đánh trên đầu từ phía sau. Bạn bè thương tiếc vì Lâm là một học sinh giỏi, nhất là môn Toán.
Ddgb4-09
Đội chiến binh Á Rập ăn trưa tại thị trấn Tứ Hạ và nghỉ ngơi bên cạnh dòng sông bồ, gần cầu Tứ Phú (cầu nối Tứ Hạ với Quảng Phú).
Con đường ven sông có hai hàng cây im mát và nhiều quán bán nước mía, nước dừa và cà phê.
Ddgb4-10
Chiến binh Phan Hương khoe hình trong ipad.
Ddgb4-11
Từ thị trấn Tứ Hạ nhóm chiến binh đi lên đường tránh Huế, chạy về hướng cầu Tuần để đi đến Chín Hầm thăm mộ Nguyễn Hữu Tuấn.
Bên phải con đường là nhà máy xi măng Luks. Khi đó có một đoàn tàu chạy ngang.
Phía xa xa là dãy núi đầu nguồn sông Bồ, nơi có nhà máy thủy điện Hương Điền.
Ddgb4-12
Bên phải con đường là những cánh đồng lúa sát chân núi. Bên trái là các làng mạc.
Ddgb4-13
Đoạn đường xuyên qua núi đá.
Ddgb4-14
Núi Kim Phụng và trụ điện cao thế, một cột mốc quan trọng ở bên phải con đường.
Ddgb4-15
Qua cầu Tuần, nhìn sang phải có thể thấy ngã ba sông: Tả Trạch bên tay trái, Hữu Trạch bên tay phải, và trước mặt là sông Hương, do hai sông này hợp thành.
Ddgb4-16
Phía trước mặt, chếch về bên phải là núi Tứ Tượng, nơi có tượng đài BồTát Quán Thế Âm.
Ddgb4-17
Sau khi chạy qua lăng Khải Định một đoạn có con đường rẽ phải qua Chín Hầm, đi ngang qua chùa Kim Đài
(nơi thầy Phạm Văn Ấm, giáo sư Anh Văn, cư trú và học đạo một thời gian sau khi nghỉ dạy).
Ddgb4-18
Đội chiến binh được Nghiêm, cháu gọi Tuấn bằng chú, dẫn đến khu mộ bên trái hầm số 1 trong khu Chứng tích Chín Hầm.
Ddgb4-19
Người cháu đang đi tìm vì không nhớ chính xác, phải gọi điện về nhà hỏi.
Ddgb4-20
Nguyễn Hữu Tuấn là liệt sĩ cách mạng, tử trận năm Mậu Thân 1968 tại Hà Trữ, huyện Phú Vang.
Ddgb4-21
Tiểu đội chiến binh Á Rập ngồi nghỉ trong bóng mát của rừng thông để chiêm nghiệm số phận lạ lùng của dân tộc: thầy, bạn đi về hai phía của chiến tuyến.
Cầu mong sao chúng ta có đủ tình thương và trí tuệ để nuôi dưỡng nghĩa tình, tình bạn và tình người.
Ddgb4-22
Các chiến binh đi về hướng đường Tam Thai,nghĩa trang thành phố, để thăm mộ bạn Lê Thị Kim Chi. Trong biến cố Mậu thân, trên đường di tản từ bãi sông Hương, trước trường Kiểu Mẫu bằng tàu đổ bộ về hướng đường Chi Lăng, tàu bị bắn, và gia đình Kim Chi mất người mẹ và ba người con gái (kể cả Kim Chi). Nhóm thắp hương cho cả gia đình, trong đó có mộ cha, mẹ, mẹ kế, các chị, v.v.
Ddgb4-23
Tiểu đội cũng đi thăm mộ thầy Đặng Minh Trai, giáo sư Anh Văn, nằm trên đồi cao, cách mộ Kim Chi chừng 100 m.
Ddgb4-24
Mộ thầy Đặng Minh Trai. Thầy mất năm 1980 vì bệnh ở nước ngoài.
Ddgb4-25
Mộ của Cao xuân Thanh Phương, bác sĩ ở Biên Hòa, Đồng Nai. Bác sĩ cũng không tránh khỏi bệnh tật và ra đi vì bệnh .
Mộ Phương nằm sau lưng chùa Trúc Lâm.
Ddgb4-26
Chiến binh Phan Hương cười tươi rói trước mộ bạn.
Sống chết là lẽ thường, phải chấp nhận thôi. Cứ sống cho hết mình, hết tình thì ra đi thanh thản.
Ddgb4-27
Các chiến binh đứng trước mộ tiền đạo đội bóng Kiểu Mẫu Nguyễn Văn Cư, ở gần núi Ngự Bình.
Bây giờ là mùa World Cup đó Cư ơi! Cư có còn hứng thú với bóng đá nữa không?
Nguyễn Văn Cư mất vì nhiễm vi trùng uốn ván trong khi đang lao tác trong trại huấn luyện quân sự Phú Bài năm 1969.
Tới đây, đội chiến binh kết thúc một ngày hành quân, đi về quán cà phê Hoàng Hạc nghỉ giải lao.

(còn tiếp)

Dọc đường gió bụi – Kỳ 03

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI – Kỳ 3
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Dọc Đường Gió Bụi tập 1 và 2 chỉ là chuyến đi tiền trạm cho chuyến đi viếng mộ bạn cũ của nhóm cựu học sinh khóa 1 A và 1B của trường trung học Kiểu Mẫu, nhân kỷ niệm 50 nuôi dưỡng tình nghĩa đồng môn. Sáng nay, ngày 4 tháng 6, nhóm K 1 gặp nhau ở nhà Phan Thị Hương, trên đường Phùng Hưng, thành nội. Đa số thành viên là các bà già trầu, tuổi từ 62 đến 67, hôm nay nhờ người chăm sóc các cháu nội, cháu ngoại để xông pha lên đường, dưới ánh nắng gay gắt và nhiệt độ từ 36 đến 39 độ C. Tất cả các bà hình như đều cải đạo theo Hồi Giáo, trùm khăn kín mít từ đầu tới chân, cho nên tạm gọi là các chiến binh (không thánh chiến – chỉ chiến đấu với nắng nóng!).

Phóng viên (chiến trường) vừa ghi nhận các hoạt động của nhóm chiến binh, vừa ghi hình các nẻo đường làng, và nhận dạng các di tích lịch sử để các bạn thưởng thức cảnh vật với một chút phong vị quê hương (là chùm . . . quít ngọt).

Nhóm khởi hành lúc 6:30, đi ra làng Hương Cần, nơi có anh Nguyễn Đăng Uynh,  con chim đầu đàn của khóa 1, bay từ Sài Gòn ra, đang đợi ở nhà. Hương Cần hồi xưa nổi tiếng với cây quít thơm ngon -  ngày nay đã . . . chua lè lè! Các chiến binh đi qua Chánh Bắc Môn (còn gọi là cửa Hậu)  của kinh thành, đi thẳng qua các làng Triều Sơn Trung, Lễ Khê, Tri Lễ và tới cầu Hương Cần, cách cửa thành 5 km. Các làng này đều thuộc xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà.
Ddgb3-01
Hai bên đường là ruộng lúa, và nằm rải rác là những nấm mồ – có thể thấy cha ông ta phần lớn thời gian làm việc trên đồng và chọn nơi nằm nghỉ cũng ở trên cánh đồng, giữa đất trời  bao la.
Anh Uynh lại dẫn đoàn đến nhà của Trương Hữu Hiền ở làng Vân Quật Thượng ( xã Hương Phong) để hỏi nhà người anh của bạn Phụng, là anh Chữ, ở gần đó.
Từ  Hương Cần đoàn đi ngang qua làng Vân Cù, là làng nổi tiếng với nghề làm bún, bây giờ vẫn còn duy trì nghề cũ. Có vài loại bún, trong đó ngon nhất là bún con, ngày xưa, là loại bún được xếp khoanh tròn, đặt trên một mảnh lá chuối cắt thành hình tròn, ngày nay được xoắn như hình một đoạn tóc thắt bím (đánh con rít). Có người giải thích sở dĩ bún con là bún ngon nhất vì đây là “bún đầu nước”, loại sản phẩm đầu tiên trong qui trình làm bún. Bún này có thể chỉ cần chấm với nước mắm hay xì dầu có thêm chanh, tỏi, ớt là đủ làm thực khách say mê, ăn không biết chán.
Ddgb3-02
Đoạn đường từ Hương Cần đến Vân Cù, có hai hàng cây khuynh diệp (bạch đàn) che nắng cho khách bộ hành.
Tiếp đó là làng Nam Thanh, có nghề truyền thống làm gạch ngói, nhưng giờ đây đã qua thời hoàng kim của các lò thủ công. Các lò nung đã trở thành các nhà bảo tàng ngoài trời. Rải rác ven đường là những đống gạch nằm phơi gió sương.
Từ Nam Thanh, đi qua cầu Thanh Phước để qua xã Hương Phong, cũng thuộc thị xã  Hương Trà.
Ddgb3-03
Từ cầu Thanh Phước nhìn ra ngã ba Sình, nơi sông Bồ gặp gỡ sông Hương. Bờ bên kia là làng Sình, tên chữ là làng Lại Ân, thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, nơi có nghề làm giấy dó, và vẽ tranh dân gian (trước đây là tranh thờ cúng), cũng là nơi có hội vật đầu năm nổi tiếng. Ngày xưa, dưới triều Nguyễn, vùng Sình, Thanh Phước  có nhiều doanh trại lính thủy và xưởng đóng thuyền. Vua và triều thần nhiều lần về duyệt thủy binh ở đây. Đấu vật là một phần của hội thao huấn luyện, bây giờ trở thành một phần của hội hè mùa xuân.
Phía dưới cầu có đình làng Thanh Phước, và gần đó có một ngôi miếu thờ bức phù điêu khắc tượng thần Siva, nơi dân làng vẫn tiếp tục hương khói, không biết đó là một vị thần của đạo Bà la môn (đã mô tả trong ký sự Đuổi Hình Bắt Bóng).
Ddgb3-04
Khi qua khỏi cầu Thanh Phước, đoàn rẽ trái, dọc theo sông Bồ, đi về làng Tiền Thành và Vân Quật Thượng. Ven đường có hàng cây dương liễu (phi lao) soi bóng xuống dòng nước xanh.
Tuy Trương Hữu Hiền đi vắng nhưng người con trai đã chỉ đường đến nhà anh Chữ, anh của Phụng. Tới đây, anh của Phụng lại dẫn nhóm đi đến nhà ông anh đầu nơi có bàn thờ của Phụng.
Ddgb3-05
Di ảnh Trương Văn Phụng trên bàn thờ.
Ddgb3-06
Hình xưa: Phụng ở hàng đứng, thứ 3 từ trái qua. Thứ 4 là Nguyễn Văn Cư.
Trương Văn Phụng đi lính ngay khi hết năm đệ tam (lớp 10). Anh chàng này sung vào lính thiết giáp và tử trận ngay trong cuộc đụng độ đầu tiên năm 1968 ở Quảng Trị.
Ddgb3-07
Cảnh vật trước mặt nhà Phụng, làng Vân Quật Thượng.
Ddgb3-08
Nhóm chiến binh được hai anh của Phụng dẫn đi thăm mộ. Trên đây là phong cảnh cánh đồng ven sông.
Ddgb3-09
Cầu tre lắt lẻo dẫn ra cánh đồng đã được thay bằng cầu bê tông nhưng vẫn giữ đường nét cong cong duyên dáng.
Ddgb3-10
Nhóm chiến binh Hồi giáo cẩn thận đặt từng bước chân trên giường ruộng hẹp, chỉ vừa bằng chiều rộng bàn chân. Có đoạn đường giường mới được đắp bùn rất trơn. Nhưng các chiến binh khá vững vàng, không có ai “chụp ếch”.
Ddgb3-11
Nhóm chiến binh đứng tần ngần bên nấm mộ đắp khá cao và to, có mọc um tùm, không có bia, cũng không có bo.
Từ trái sang là Trần Ngọc Bảo, Nguyễn Đăng Uynh, Lưu Thị NhịHải, Nguyễn Thị Lâu, Phạm Thị Hoa, Nguyễn Thị Hòa, và hai anh của Phụng.
Ddgb3-12
Nữ chiến binh Phan Thị Hương, bà già trầu thời @, mang theo i-pad chụp hình lia chia, i-phone móc ra, bỏ vô, cứ nghe ríu rít.
Đi thăm mộ mà mặt mày tươi rói, “cuộc đời vẫn đẹp sao”!
Mồ mả nằm giữa ruộng vườn, không có nghĩa trang riêng biệt – không có ranh giới giữa cõi dương và cõi âm!
Ddgb3-13
“Cầu cong lắt lẻo”  dẫn ta về lại thôn xóm.
Anh Uynh dẫn nhóm chiến binh quay về Hương Cần thắp nhang cho một bạn khóa 1B: Bùi Thị Nhàn.
Ddgb3-14
Bạn này mất vì bệnh khoảng năm đệ nhị, ít người nhớ rõ, và gia đình cũng không nhớ rõ.
Ddgb3-015
Bên cạnh di ảnh Nhàn có di ảnh của người em gái là Bùi Thị Ánh, cũng là cựu học sinh Kiểu Mẫu, không biết khóa nào. Bạn này đã ra trường, học sư phạm và đi dạy ở Quảng Trị, nhưng rồi bị tai nạn giao thông ở cầu Mới, không nhớ năm nào.
Ddgb3-16
Anh Châu Văn Chiếu thắp hương bàn Phật. Anh Chiếu thường khấn vái rất to, như đang nói chuyện với bạn bè, như thử “không hề có cuộc chia ly” – chỉ có chia tay! Mọi người lần lượt dâng hương cầu nguyện cho các bạn đang sống ở cõi xa xôi nào đó cũng được an lành.

(còn tiếp)

Dọc đường gió bụi – Kỳ 02

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI – Kỳ 2
Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Nghe tên làng Phụ Ổ, nhiều người thấy lạ tai. Nhưng còn tên xóm bên tay trái con đường thì sao?
Ddgb2-01
Xóm Rậy. Quanh đây còn có vài địa danh nghe “ngứa” lỗ tai hơn nữa: Cửa Trữa, La Hả.
Còn làng An Đô, Bồn Trì, Bồn Phổ – cũng ở gần đây- nghe có quen tai không? Thật ra tên làng trong tỉnh Thừa Thiên có tới hàng trăm, ai mà biết cho hết được! Và cũng không biết được ý nghĩa vì nhiều nơi, tên đất, tên làng, người ta mượn âm của người Chàm, cư dân trước đây.
Con đường nắng gió đưa chúng ta đến xã, bây giờ là phường Hương Chữ, và đi ngang Cồn Ràng. Đây là một địa danh bị xóa sổ khi làm con đường này. Nhưng đây là một di chỉ khảo cổ quan trọng. Ở đây người ta đã tìm thấy hàng trăm hiện vật như lu, vại, đồ trang sức, v.v. của nền văn hóa Sa Huỳnh, cách đây khoảng 2.500 năm. Trong đó, nhiều nhất là mộ chum. Ai chưa thấy mộ chum có thể vào nhà Bảo Tàng Lịch Sử, bây giờ tạm đặt trong Di Luân Đường, ở trường Hàm Nghi cũ, để xem, hay đi sang Cánh Đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng, bên Lào (!)
Khi đi đến gần nhà máy xi măng Luks (đầu tư của Hồng Kông, nhãn hiệu Kim Đỉnh), hai lãng tử rẽ tay trái để đi lên làng Sơn Công và Lại Bằng, và đi tiếp lên nhà máy thủy điện Hương Điền, đích cuối của cuộc đi chơi (vì tới đó thì không còn đường đi lên thượng nguồn sông Bồ), cách đường tránh Huế hơn 7km.
Ddgb2-02
Đây là con đường ven sông Bồ thuộc địa phận làng Lại Bằng. Bờ sông khá cao so với mặt nước. Nhưng trước đây, vào mùa lụt, nước vẫn dâng lên tàn phá ruộng vườn, nhà cửa. Bây giờ thì người ta đã làm bờ kè để ngăn xói lở và làm đập thủy điện để trị thủy. Phía thượng nguồn là núi non thuộc dãy Trường Sơn. Bên kia sông là làng Cổ Bi. Xa hơn nữa là suối nước nóng Thanh Tân.
Làng Lại Bằng có đặc sản thanh trà ngon nhất Thừa Thiên (so với thanh trà Nguyệt Biều, Lương Quán, và Bằng Lãng). Nhìn vào vườn đã thấy trái thanh trà ra chi chít, nhưng phải đợi hai tháng nữa, vào lúc thời tiết nắng nóng hơn, trái mới ngon!
Từ bờ sông, có đường rẽ trái (đường đất), đi vòng vèo qua vài khoảnh vườn cao su khoảng hơn 1 km thì gặp đường nhựa dẫn lên nhà máy thủy điện.
Ddgb2-03
Đây là con đường xẻ ngang qua núi đá. Có thể thấy đường dây điện trên cao.
Ddgb2-04
Hình ảnh thông mọc lên từ vách đá thật là đẹp. Có thể thấy điều kiện sống rất khó khăn mà cây vẫn đầy sức sống!
Ddgb2-05
Tiếp đó là bãi khai thác đá.
Ddgb2-06
Lãng tử tạm dừng, nhường chỗ cho xe tải chở đá vì bụi bốc lên mù mịt.
Ddgb2-07
Đá granite đã được nghiền thành sạn, phục vụ cho việc xây dựng.
Ddgb2-08
Nhìn lên cao, cách mặt đường 20-30m, giữa trời nắng chang chang, công nhân vẫn làm việc miệt mài. Và nơi làm việc trông khá nguy hiểm.
Ddgb2-09
Con đường quanh co đi lên, cũng có khi dốc xuống, nhưng cuối cùng cũng dẫn đến bờ sông. Ở đây cách mặt nước khoảng 40m (ước lượng chủ quan!)
Ddgb2-10
Nước sông xanh biếc, có thể thấy tận lòng sông.
Ddgb2-11
Cổng nhà máy kia rồi. Nhưng bảo vệ nhà máy không cho phép vào tham quan. Ừ, chỗ người ta mần ăn chứ đâu phải chỗ chơi!
Ddgb2-12
Chỉ có thể đứng ngoài nhà máy chụp hình đập nước từ xa.
Bây giờ đang là mùa khô cho nên người ta đang đóng cửa đập để tích nước, phát điện, nên không thấy nước tuôn ra.
Nguồn sông Bồ ở độ cao khoảng 1.400m, thuộc huyện A Lưới. Hồ nước chứa hơn 800 triệu mét khối. Chiều cao cột nước khoảng 47m. Mỗi năm phát chừng 350 triệu km/h điện.
Nhà máy được xây từ năm 2005, ngăn sông năm 2006, và phát điện từ năm 2010.
Ddgb2-13
Thôi thì quay ngựa về đường cũ. Nhưng không thể không ngoái đầu nhìn lại dòng sông Bồ xanh biếc.

Trần Ngọc Bảo
Lê Đức Thiệp.

Dọc đường gió bụi – Kỳ 01

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI – Kỳ 1

Tác giả: Trần Ngọc Bảo K1A

Sau khi đi thăm mộ hai bạn đồng môn cũ là Nguyễn Văn Cư ở gần núi Ngự Bình và Lê Thị Kim Chi gần dãy núi Thiên Thai, Thiệp Hynos và Bảo Ta- bà chạy qua Chín Hầm, từ đó theo một con đường mà hai bên là rừng thông băng sang lăng Khải Định, rẽ sang dốc cầu Tuần.
Hóa ra Thiệp Hynos cũng mê đi ta bà, thích khám phá những con đường mới. Để làm chi rứa cụ Thiệp? Để chở vợ đi chơi! Ui chao, không ngờ hai ôn mụ ni còn tình cảm lai láng, con tim lãng mạn như rứa!
Thế là mình chở cụ Thiệp dông tiếp trên con đường gió bụi, thường được gọi là “đường tránh Huế”,tức là đường vành đai bắt đầu từ Phú Bài ra Cây số 17 (Văn Xá), bây giờ gọi là thị trấn Tứ Hạ, để tránh đi xuyên qua thành phố Huế. Đây là một trong số ít con đường mà mắt mình có thể nhìn thấy rất nhiều mảng màu xanh, xanh cây cối, xanh trời, xanh nước và không gian thoáng rộng.
Ddgb1-01
Con đường chạy dọc sông Hương bên phía hữu ngạn nhìn từ cầu Tuần.
Ddgb1-02
Bên tê cầu Tuần là hai ngọn núi xanh nhấp nhô mà các cụ trong hội hoàng gia rất thích ngắm.
Ddgb1-03
Từ đường cái quan đi vào hai trụ điện cao thế là con đường dẫn tới chân núi Kim Phụng mà các đoàn leo núi không thể nào quên.
Ddgb1-04
Thiệp Hynos bình luận khách du qua đây thấy khe mà không thấy bướm.
Ddgb1-05
Bảng đề thị trấn Tứ Hạ 13, 5 km (nếu đi thẳng). Vậy thì ta hãy cứ đằng trước, tiến!
Ddgb1-06
Bên phải con đường có một nhà hàng nhận đặt tiệc cưới. Không biết có ai lên chốn non cao vắng vẻ này để dọn tiệc? Chắc là nơi hẹn hò của các cặp tình già như cụ Thiệp.
Ddgb1-07
Tới đây cụ Hynos lại trầm trồ: đường này xẻ núi mà đi, và hồ hởi phán: phi xuống dốc ni … mì đã!
Ddgb1-08
Cổng làng nào đây?
Ddgb1-09
Tới gần mà nhìn cho rõ.
Ddgb1-10
Còn bên tê là làng chi? Ai biết? Không biết cũng không sao, cứ phóng tầm mắt ra xa cho khỏe.
Đi một đoạn nữa sẽ gặp con đường rẽ trái lên Chằm và chùa Huyền Không Sơn Thượng.
Ddgb1-11
Đây là cầu Máng. Vậy thì cái máng nằm ở đâu?
Ddgb1-12
Cái máng dẫn nước nằm bên phải đường, khá xa, giống như một chiếc cầu dài.
Ddgb1-13
Đây là làng Phụ Ổ. Đi qua cổng làng này sẽ gặp làng. . . tất nhiên là Phụ Ổ, sau đó là làng La Chữ, nơi có cột đình đi vào văn học dân gian: “To thình thình như cột đình La Chữ.” Ở đây còn lưu giữ một cái chuông thời Tây sơn do Đô Đốc Vũ Văn Dũng đúc và dâng cúng cho chùa làng. Bên trái con đường tránh này có một nghĩa địa gọi là Cồn Thầy Tu nơi có mộ Đô Đốc Dũng và phu nhân.
Có người nơi đây là làng nhiều chữ vì có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi ngày xưa. Cũng có người giải thích La nghĩa là lụa, và Chử (dấu hỏi) là bến: bến giặt lụa.

(còn tiếp)